Can khương chữa suy nhược, ăn uống kém, ho ra máu, cầm máu

Can khương hay còn gọi là gừng khô, được sử dụng từ những loại gừng già, rễ gừng lâu năm để làm thuốc, chữa bệnh rất hay mà các gia đình cần có sẵn trong nhà chữa cảm vặt, nôn, ói, đau bụng… Vì là loại thảo dược khô nên dễ bảo quản tuy nhiên cần biết cách sử dụng và chế biến để can khương phát huy tác dụng tốt nhất. Tránh nhầm lẫn trong nhận diện và bào chế khác nhau.

Can khương là gì?

Đặc điểm

Can khương được dùng từ thân, rễ rừng Zingiber officinale Ross được thái lát, phơi khô. Là cây thảo sống lâu năm, cao khoảng 1m. Cây không hình thành quả mà ở thân rễ mọc phình lên thành củ, để càng lâu càng già thì củ có xơ người ta thường gọi là can khương.

can khương
can khương

Cây có lá không cuống, bẹ như lá tre mọc đối xứng, mọc cách nhau hình müi mác, dài tới 20cm, rộng 2cm, bẹ nhỏ dạng màng. Cán hoa dài khoảng 20cm mọc từ gốc xếp thành lớp. Cụm hoa dạng trứngmàu lục nhạt dài khoảng 5cm. Đài có 3 răng ngắn.

Nhị lép không có hoặc tạo thành thùy bên của cánh môi. Cánh môi màu vàng, viền thêm màu tía, dài 2cm, rộng 1,5cm, chia thành 3 thùy. Bầu có hoa vào mùa hè và mùa thu. Người ta thường lấy lá gừng kho cá để giảm bớt mùi tanh, vì ở lá gừng có mùi thơm nhất định.

Ở nước ta, gừng ngoài được dùng già làm can khương người ta cũng thường dùng trogn chế biến thức ăn, ngâm mật ong giảm ho hay làm mứt vào những ngày tết. Dừng như gừng tươi hay gừng già khô vẫn luôn là thực phẩm gắn liền với cuộc sống mỗi người.

Tìm hiểu: Đương Quy tăng sức đề kháng, suy nhược, thiếu máu cải thiện sức khỏe.

Riêng về can khương, họ thường trồng cho đến khi cây gừng già cỗ, vàng và khô lá, củ phình bự và tạo xơ nhiều thì được thu hoạch, rửa sạch, sắc lát và phơi khô để dùng. Lúc này thành phần dược tính có trong Can Khương là nhiều nhất và ít giá trị hơn ở cây non.

Thân rễ gừng khô là loại Gừng lâu năm càng tốt có dạng ngón tay phẳng dẹt phân nhánh, có đốt rõ ràng vỏ ngoài màu xám trắng hoặc xám vàng nhăn teo. Đỉnh có vết rễ và vết mầm chất cứng giòn mặt cắt có chất xơ. Loại to, gìa, khô, củ chắc, vỏ sắc màu vàng nhợt ít nhăn, sạch rễ con, thịt trong vàng đậm là tốt. Thứ mốc vụn nát, ruột đen thối là xấu.

Thành phần hóa học

Phân tích dược liệu can khương phát hiện một số thành phần chính bao gồm: zingeron, zingerola, shogaola, α camphen, β phelandren, zingiberen C15H24, sesquitecpen, xitrala bocneola, geraniola.

Tính vị trong đông y,  Dược liệu can khương có vị cay với mùi thơm hắc và tính ấm nóng được quy vào 4 kinh là Tỳ, Tâm, Vị và Phế. Theo y học cổ truyền có công dụng: Hồi dương, thông mạch, ôn trung tán hàn, táo thấp tiêu đàm. Chủ trị: Đau bụng lạnh, nôn mửa ỉa chảy, đầy trướng khó tiêu, đàm ẩn, ho suyễn, tứ chi lạnh, tán khương tăng cường chỉ huyết.

Đọc ngayCây đinh lăng tăng cường sức khỏe, trí nhớ, suy nhược, ốm yếu.

Công dụng của can khương

Khi bào chế can khương được ủ mềm sau đó sắc lát, phơi khô. Can khương có vị vay, tính nóng ấm, mùi thơm thường được dùng cho những người bị cảm lạnh, ho khan. Vì tính nóng cay nên tuyệt đối không dùng cho phụ nữ có thai.

14 công dụng của can khương
14 công dụng của can khương
  • Hỗ trợ người ăn uống kém, suy nhược: dùng Can khương tán bột trộn với mạch nha đem đun nóng cho tan chảy sau đó để nguội viên thành hạt nhỏ uống khi đói. Ngày sử dụng 30 viên sẽ cải thiện được thể trạng yếu đuối do bị thương, khó tiêu…
  • Trúng hàn lạnh bụng, ngấm vào cơ thể gây ỉa chảy, đi ngoài nhiều lần: dùng can khương tán bột ăn với cháo lần 2 chỉ.
  • Hàn kỵ ra màu xanh dùng Can khương sắt lớn, mỗi lần uống 6-7 bát với nước cơm ngày 3 lần, đêm 1 lần.
  • Sản hậu ra máu dơ ra không cầm được, huyết hư nhiều dùng Bạch thược, Đương quy, Ngưu tất cùng can khương sắc uống.
  • Trị ỉa chảy do cảm hàn: dùng can khương 1 lượng đâm nát sao vàng cho nóng ấm đem đắp trên bụng ở vị trí dưới rốn, dùng vải quấn lại chừng 1-2 giờ là tháo ra thay mới.
  • Trị nôn mửa do hàn ẩm: Bán hạ 9g, Can khương 6g, tán bột, mỗi lần uống 3-6g với nước nóng.
  • Trị nôn ra máu không cầm thuộc hư hàn: Can khương đem đốt cháy cùng Cam thảo đều 6g, sắc uống với nước tiểu trẻ con.
  • Trị nôn mửa thuộc hư hàn: Can khương, Nhân sâm, Bán hạ, các vị bằng nhau, tán bột, trộn nước gừng làm thành viên, mỗi lần uống 6-9g, ngày 3 lần.
  • Cầm máu: Dùng can khương đem đốt cháy sau đó sắc uống, dùng với thuốc bổ âm thì nó đem được huyết vào khí Phận. Chứng huyết hư phát sốt và chứng nóng lạnh vì bệnh huyết sau khi sinh cũng được dùng can khương đốt cháy sắc uống.
  • Bàn thuốc chữa bệnh tâm thầm thể khí trệ huyết ứ có hàn: Chuẩn bị 3g can khương, 6g phụ tử, 12g tang bạch bì, 12g đương quy, 12g tử tô, 10g xích thược, 10g sài hồ, 10g hồng hoa, 30g uất kim, 10g hương phụ, 10g trần bì, 10g xuyên khung, 20g đào nhân, 15g đan sâm, 15g bồ hoàng.
  • Trị chứng tỳ vị hàn thấp: Gừng đồ lên để nguyên cả vỏ phơi khô gọi là Can kinh khương. Gừng cạo vỏ đi , màu trắng vị rất cay gọi là Bạch khương, Thục khương trị chứng phế và vị hàn.
  • Bài thuốc chữa viêm khớp dạng thấp: Chuẩn bị 3g can khương, 9g đương quy, 9g xuyên khung, 6g phụ tử, 9g bạch thược, 9g thục địa. Các vị thuốc cho vào ấm sắc lấy nước uống ngày 1 thang.
  • Trị phụ nữ băng huyết: dùng Can khương 6g, Tông bì, Ô mai đều 9g, tất cả đốt cháy đen tán bột uống với nước sẽ cải thiện được tình trạng băng huyết.
  • Trị sốt rét có đờm: dùng Can khương, Quất bì, Truật, Bối mấu, Phục linh sắc uống.
  • Hạ huyết do trường tích: dùng Can khương, Sinh địa, Bạch thương, Mạch môn, Nhân sâm, Hoàng kỳ, Cam thảo, Thăng ma đem sắc uống.
  • Bài thuốc trừ giun, giảm đau: Chuẩn bị 6g can khương, 12g ô mai, 6g hoàng bá, 6g hoàng liên, 12g phụ tử chế, 6g quế chi, 6g xuyên tiêu, 4g tế tân, 12g đẳng sâm, 12g đương quy. Các vị thuốc này đem tán bột rồi luyện với mật ong làm hoàn. Mỗi lần uống 8g với nước sôi ấm, ngày uống 2 lần. Đáp ứng với các trường hợp giun chui ống mật, giun đũa, bụng đau dữ dội…
  • Trị ho mãn tính hoặc do cảm lạnh: dùng can khương ngâm mềm sau đó ngâm cùng mật ong rừng từ 1-3 tiếng sau đó ngậm trong miệng, nhai nuốt. Nhất là đối với người bị trúng hàn ngầm can khương để làm ấm cơ thể, giảm ho.

Người thầy thuốc thường gọi hắc khương là can khương đem đốt cháy, Gừng cạo vỏ nhưng chưa nấu, chưa bào vị cay gọi là bạch khương. Can Khương xắt lát dầy, sao ném vàng, còn đang nóng rảy ít nước vào rồi đậy kĩ để nguội lấy dùng được gọi là Thượng tiêu.

Đọc ngay: Cây tầm bóp trị ho, viêm họng, khan tiếng, mụn nhọt, tiểu đường.

Kiêng kỵ khi sử dụng

Can khương vị đại cay, người âm hư có nhiệt, có thai không nên dùng. Vì cay nên tán khi tẩu huyết sử dụng và uống lâu tổn hại tới phần âm, thương tổn mắt. Ngoài ra những chứng âm hư nội nhiệt, ho do âm hư, mửa ra máu kèm biểu hư có nhiệt, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, ỉa ra máu, mửa do nhiệt, đau bụng do hỏa nhiệt, đều cấm dùng.

có thai không nên dùng can khương
có thai không nên dùng can khương

Vị này thường cực kỵ với vị của các loại Hoàng cầm, Hoàng liên, Dạ minh sa, Tần tiêu nên cần lưu ý khi sử dụng, cần được tham khảo bởi các thầy thuốc. Tránh dùng chung với hoàng cầm, hoàng liên, tần tiêu, dạ minh sa. Hiện cang khương được bán ở tại hầu hết quầy thuốc đông y, thuốc bắc tuy nhiên tình trạng giả, rút hết thành phần dược tính có trong can khương và các vị thuốc khác đang diễn biến khá khó kiểm soát nên người dân khi mua cần tìm hiểu kỹ, nơi uy tín để tránh tiền mất tật mang.

Thông tin: Tam Thất Và Mật Ong tiêu viêm, khử độc, tăng cường miễn dịch, trị suy nhược

Những thông tin về vị thuốc can khương chỉ có giá trị tham khảo, không nên tự ý muaveef sử dụng mà không thăm khám kỹ lượng. Trước khi có ý định dùng vị thuốc này cho bất cứ mục đích nào, bạn cần trao đổi với bác sĩ, thầy thuốc đông y để được hướng dẫn về liều lượng cũng như những khuyến cáo.

Bài viết liên quan :

Cập nhật lần cuối: Th5 30, 2020 @ 9:39 sáng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *